Thứ tư, 24/06/15

Quan điểm chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về khoa học và công nghệ


Khoa học và công nghệ (KH&CN) là động lực của sự phát triển. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn xác định KH&CN có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) đã thông qua Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam với nội dung cơ bản: Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã xác định, ở miền Bắc, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá là con đường tất yếu để phát triển nhanh nền kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân, thực hiện những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Công nghiệp hoá phải có kế hoạch, phải có giải pháp cụ thể và phải giải quyết những mối quan hệ, trong đó có mối quan hệ cơ bản là giữa tích luỹ cho công nghiệp hoá và cải thiện đời sống. Chú trọng mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp, công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp, phải coi công nghiệp và nông nghiệp như hai chân của nền kinh tế "Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có hai chân là công nghiệp và nông nghiệp". Phát triển kinh tế "gắn liền với phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân". Nửa đầu thập niên sáu mươi công nghiệp hóa được đẩy mạnh trên miền Bắc theo đường lối Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Do hoàn cảnh chiến tranh nên từ 1965 phải chuyển hướng kinh tế. Tuy vậy, Đảng ta vẫn chủ trương tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, đương nhiên quy mô tốc độ công nghiệp hoá có sự điều chỉnh. Với đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đã đầu tư xây dựng những khu trung tâm công nghiệp lớn và cũng hình thành phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế như điện, than, cơ khí luyện kim, hoá chất, v.v... Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, coi trọng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngành kinh tế, nhất là nông nghiệp (cơ giới hóa, thủy lợi hóa, cách mạng về giống cây trồng và vật nuôi). Phát triển giáo dục, cả giáo dục phổ thông, đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đào tạo đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa, lớp người lao động mới có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần yêu nước và tác phong công nghiệp. Đó là một trong những thành quả cần ghi nhận của cách mạng xã hội chủ nghĩa và quá trình công nghiệp hóa ở miền Bắc.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) đã đề ra đường lối chung của cách mạng Việt Nam trên phạm vi cả nước: (1) "Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội." (2) về đường lối xây dựng kỉnh tế, Đại hội xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội... làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học - kỹ thuật tiên tiến.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đã nhấn mạnh: "Một đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất". Trong tình hình ấy, nước ta cần thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tạo ra động lực để giải phóng năng lực sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học và kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh, trong đó có đoạn: "Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cuộc cách mạng KH&CN hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở những mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển, lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước lạc hậu về kinh tế".

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị (1991) về KH&CN đã nêu rõ những mặt yếu kém của KH&CN ở nước ta, đề ra những nhiệm vụ quan trọng của KH&CN trong giai đoạn cách mạng mới, những biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh phát triển KH&CN, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cải tiến sự quản lý của Nhà nước đối với KH&CN. Đảng ta cho rằng: Phát triển KH&CN là nhu cầu của nước ta nhằm đuổi kịp các nước trên thế giới bằng thực lực kinh tế.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã xác định đưa nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại... Tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, tận dụng lợi thế của nước đi sau, tranh thủ công nghệ mới. Về công nghiệp, đi vào xây dựng những khu công nghệ cao, coi trọng phát triển một số ngành công nghiệp nặng; lấy ứng dụng, chuyển giao công nghệ là chính.

Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (1996) đã ra Nghị quyết về Định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, khẳng định vai trò động lực của KH&CN đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước... Nghị quyết còn đặt ra yêu cầu phải sớm có luật pháp về KH&CN để thể chế hóa mọi mặt hoạt động KH&CN, phải nhanh chóng đổi mới cơ chế quản lý khoa học, phải đầu tư thỏa đáng, bước đầu dành tối thiểu 2% chi ngân sách cho KH&CN. Năm 2000, Luật KH&CN được ban hành.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳng định, phát triển KH&CN vừa là nền tảng, vừa là động lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội đã nhận định: "Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi, KH&CN sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất". Muốn rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải nắm bắt, khai thác, sử dụng các thành tựu KH&CN hiện đại và những yếu tố của nền kinh tế tri thức. Phát triển KH&CN phải hướng vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, xây dựng năng lực cạnh tranh của hàng hóa, xây dựng năng lực công nghệ quốc gia đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao (tin học, sinh học, vật liệu mới, tự động hóa)... Tăng đầu tư từ ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho KH&CN...

Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX (7- 2002) đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII và xác định nhiệm vụ của KH&CN trong thời gian tới là: Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn; đổi mới nâng cao trình độ công nghệ trong nền kinh tế quốc dân; xây dựng và phát triển có trọng điểm các ngành công nghệ cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định: "Phát triển mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN... Kết hợp chặt chẽ hoạt động KH&CN với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức... Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của nền kinh tế... Cùng với việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học - công nghệ, Nhà nước tập trung đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia, phấn đấu đạt trình độ khu vực và thế giới; xây dựng tiềm lực KH&CN cho một số lĩnh vực trọng điểm, công nghệ cao... Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao...".

Hội nghị Trung ương 9 Khóa X (2009) đã ra Nghị quyết 31-NQ/TW "Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng", về KH&CN, Nghị quyết ghi: "Tiếp tục đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý và chính sách phát triển KH&CN; nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KH&CN quốc gia và các ngành, các sản phẩm quan trọng. Phát triểrr thị trường KH&CN. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Có chính sách, chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc tốt hơn cho cán bộ nghiên cứu khoa học, nhất là cán bộ đầu ngành, có trình độ cao".

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã khẳng định: “Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Quản lý khoa học, công nghệ có đổi mới, thực hiện cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ. Thị trường khoa học, công nghệ bước đầu hình thành. Đầu tư cho khoa học, công nghệ được nâng lên”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã vạch rõ những định hướng lớn về phát triển KH&CN trong thời kỳ mới với những quan điểm cơ bản dưới đây: “KH&CN giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển KH&CN nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Phát triển đồng bộ các lĩnh vực KH&CN gắn với phát triển văn hóa và nâng cao dân trí. Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực KH&CN của đất nước, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựu KH&CN hiện đại trên thế giới. Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”.
Hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã ra Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: Phát triển và ứng dụng KH&CN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ KH&CN đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển KH&CN. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển KH&CN; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Đầu tư cho nhân lực KH&CN là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN. Ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển KH&CN. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai; coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới, trong ứng dụng và chuyển giao công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường KH&CN. Quan tâm đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù hợp với điều kiện Việt Nam. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để cập nhật tri thức KH&CN tiên tiến của thế giới, thu hút nguồn lực và chuyên gia, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia các dự án KH&CN của Việt Nam. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh sau khi được đào tạo ở nước ngoài về nước làm việc.

Trên đây là những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về KH&CN trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ngành KH&CN, chính quyền các cấp đã xây dựng và triển khai chương trình hành động thực hiện các Nghị quyết của Đảng trong lĩnh vực KH&CN. Đội ngũ các nhà khoa học và toàn xã hội với quyết tâm chính trị cao, kết hợp chặt chẽ hoạt động KH&CN với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức vì mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Vĩnh Hảo
Số lượt đọc8717