Thứ sáu, 28/08/15

Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020

Mục tiêu lớn

Chiến lược KHCN 2011-2020 được xây dựng dựa trên việc tổng kết quá trình thực hiện Chiến lược phát triển KHCN Việt Nam đến năm 2010, cụ thể hóa nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020; đề ra các quan điểm, mục tiêu, định hướng và giải pháp phát triển KHCN giai đoạn 2011-2020.

Mục tiêu tổng quát của chiến lược đó là Phát triển đồng bộ khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ; đưa khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đến năm 2020, KHCN Việt Nam có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới.

Cụ thể, đến năm 2020, KHCN góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và tái cấu trúc nền kinh tế, giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% GDP. Tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt 10-15%/năm giai đoạn 2011-2015 và trên 20% giai đoạn 2016-2020. Giá trị giao dịch của thị trường KHCN tăng trung bình 15-17%/năm.

Số lượng công bố quốc tế từ các đề tài nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước tăng trung bình 15-20%. Số lượng sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2011-2015 tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn 2006-2010, giai đoạn 2016-2020 tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2011-2015.

Phấn đấu tổng đầu tư xã hội cho KHCN đạt 1,5% GDP vào năm 2015 và trên 2% GDP vào năm 2020. Bảo đảm mức đầu tư từ ngân sách nhà nước cho KHCN không dưới 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm.
Đến năm 2015, số cán bộ nghiên cứu KHCN đạt từ 9-10 người trên 1 vạn dân, đào tạo và sát hạch theo tiêu chuẩn quốc tế 5.000 kỹ sư đủ năng lực tham gia quản lý, điều hành dây chuyền sản xuất công nghệ cao trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước. Đến năm 2020, số cán bộ nghiên cứu KHCN đạt 11-12 người trên 1 vạn dân và đào tạo, sát hạch theo tiêu chuẩn quốc tế 10.000 kỹ sư.

Đến năm 2015, hình thành 30 tổ chức nghiên cứu cơ bản và ứng dụng trình độ khu vực và thế giới, đủ năng lực giải quyết những vấn đề trọng yếu quốc gia đặt ra đối với KHCN; 3.000 DN KHCN; 30 cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao. Đến năm 2020, hình thành 60 tổ chức nghiên cứu, 5.000 DN KHCN, 60 cơ sở ươm tạo công nghệ cao…

Theo Bộ KHCN, 5 chỉ tiêu cụ thể này được xây dựng trên cơ sở dữ liệu thống kê, thông tin chính thức, đồng thời tham chiếu mục tiêu phát triển KHCN của một số nước trên thế giới và khu vực nhằm nâng cao tính xác thực và khả thi.

Đến “tháo gỡ” cơ chế

Hiện nay, vấn đề được đông đảo giới khoa học quan tâm đó là đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động KHCN, đồng thời tăng cường tiềm lực KHCN. Hiện, tổng đầu tư của xã hội cho KHCN vẫn còn rất thấp. Theo thống kê, tổng đầu tư của chúng ta mới có được hơn 1 tỷ USD cho KHCN trong khi Nhật Bản có khoảng 150 tỷ USD, Hàn Quốc hơn 50 tỷ USD, mức chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trên cán bộ nghiên cứu, chỉ bằng 1/50, thậm chí 1/100 so với một số nước trong khu vực… “Chưa kể, kinh phí sự nghiệp KHCN về danh nghĩa, chúng ta cùng làm với Bộ Tài chính nhưng việc phân bổ ấy lại phụ thuộc vào Bộ Tài chính nhiều hơn, thế nhưng chúng ta vẫn phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Chính phủ toàn bộ 2% tổng chi ngân sách dành cho KHCN”, Bộ trưởng Bộ KHCN Nguyễn Quân chia sẻ thêm.

Trong Chiến lược, đã đề ra giải pháp tập trung nguồn lực để thực hiện các chương trình, đề án KHCN quốc gia và nâng cao năng lực KHCN quốc gia. Đó là triển khai mô hình hợp tác công – tư trong lĩnh vực KHCN; chuyển các tổ chức KHCN công lập sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Thực hiện cơ chế Nhà nước “đặt hàng” đối với các nhiệm vụ KHCN, trước hết đối với các sản phẩm quốc gia, sản phẩm công nghệ cao; áp dụng các hình thức mua, khoán sản phẩm phù hợp với từng loại hình hoạt động KHCN; Tăng mức chi, bổ sung và mở rộng nội dung chi, đơn giản hóa thủ tục hóa đơn, chứng từ tài chính phù hợp với đặc thù hoạt động KHCN.

Áp dụng một số cơ chế, chính sách đột phá nhằm thúc đẩy xã hội hóa đầu tư cho KHCN, đặc biệt là đầu tư của DN cho các hoạt động nghiên cứu và đổi mới công nghệ. Kiến nghị sửa đổi quy định về việc DN có thể trích trên 10% thu nhập tính thuế hàng năm đầu tư cho nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ. Đặc biệt, chuyển cơ chế cấp phát tài chính để thực hiện các nhiệm vụ KHCN sang cơ chế quỹ. Triển khai nhanh chóng và đồng bộ hệ thống các quỹ KHCN bao gồm các quỹ quốc gia, Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Theo Bộ trưởng Nguyễn Quân, “đây là điểm mới đáng kể, một cơ chế tích cực dù nó đã được thực hiện từ lâu ở hầu hết các nước phát triển và thực tế kiểm nghiệm cho thấy hiệu quả”./.
Số lượt đọc5069